Full Version : Tự học photoshop
phamvulam >>Photoshop production >>Tự học photoshop


<< Prev | Next >>

phamvulam- 07-17-2006
Giới thiệu với mọi người công cụ xử lí ảnh tốt nhất hiện nay.....Hi vọng có thể giúp được các bạn nhiều trong công việc của mình.....

Chương I : Lời Nói Đầu

Photoshop là một trong những công cụ xử lý ảnh mạnh nhất và tiện dụng nhất hiện nay. Công dụng của nó rất vô cùng và rộng lớn. Đối với những nhiếp ảnh gia thì Photoshop có thể tăng hiệu ứng của bức ảnh, sửa chữa những khiếm khuyết không đáng có của bức ảnh và hơn thế nữa người ta có thể dùng Photoshop để tạo lên hẳn một template cho website của mình, hoặc làm ra những thanh di chuyển, những hình đồ hoạ độc đáo.

Tuy nhiên để tạo ra được những thứ đó thì trước hết bạn nên biết được những điều cơ bản, hiểu rõ tính năng của từng hiệu ứng, nắm rõ chức năng của từng công cụ sẽ giúp bạn có những tác phẩm như mong muốn.

Những bài viết sau đây là do tôi dich lại từ trang web about.com và của tác giả Sue Chistain, nếu bạn muốn xem bản gốc thì có thể ghé thăm trang web đó. Tôi làm công việc chuyển dich này chỉ có một mục đích duy nhất là đem đến cho các bạn yêu thích đồ hoạ thêm một tài liệu nữa để tham khảo. Bản thân tôi khi lướt web và muốn tìm một cuốn eBook bằng tiếng Việt hướng dẫn về Photoshop thì dường như không có. Nhưng tài liệu về tiếng Anh thì nhiều không thể tả, hướng dẫn cơ bản, rõ ràng và hoàn toàn Free. Với một chút vốn liếng tiếng Anh của mình, tôi muốn chuyển dịch một trong những tài liệu mà tôi cho rằng dễ hiểu và rõ ràng nhất để giúp những bạn có nguyện vọng tìm những cuốn ebook bằng tiếng Việt có thêm một tài liệu để tham khảo.

Trong bản dich này tôi để nguyên tác tiếng Anh những công cụ trong Photoshop vì thứ nhất nếu dịch ra tiếng Việt thì rất "khó nghe" và thứ hai là chúng ta không có bản Photoshop Việt hoá, cho nên nếu dich ra tiếng Việt sẽ làm các bạn lẫn lộn giữa các công cụ khi thực hành.

Do trình độ hạn chế do vậy tôi không tránh khỏi những sai sót trong khi chuyển dịch. Tôi rất biết ơn những ai đóng góp ý kiến sửa chữa hoặc phê bình để tôi hoàn thành nó một cách tốt hơn. Và biết đâu trong tương lai tôi lại dịch thêm một vài cuốn khác thì sao?

Chương II

Bắt đầu bằng cách làm quen với 4 thành phần cơ bản trong môi trường làm việc của Photoshop đó là: Thanh menu, thanh trạng thái, hộp công cụ và các Palettes. Trong bài học đầu tiên chúng ta nói về thanh Menu


1. Thanh Menu

user posted image

Thanh menu bao gồm 9 menu phụ: File, Edit, Image, Layer, Select, Filter, View, Window và Help. Bỏ ra vài phút để tự khám phá thanh menu, bạn sẽ nhận ra rằng có một số menu phụ theo sau bởi 2 dấu ngoặc đơn (...). Nó có nghĩa rằng đằng sau menu này được theo sau bởi một hộp thoại mà bạn có thể thêm vào những định dạng. Một số khác được theo sau bởi những mũi tên nhỏ, nó chỉ ra rằng một menu phụ với những lệnh liên quan. Khi bạn khám phá từng menu, hãy khám phá cả những menu phụ nữa. Bạn cũng có thể để ý thấy rằng rất nhiều lệnh được theo sau bởi những lệnh bàn phím. Sau này bạn sẽ nhận ra rằng những lệnh tắt này sẽ giúp bạn tiết kiệm rất nhiều thời gian. Khi bạn đọc xong cả 8 chương này bạn sẽ học được những lệnh tắt hữu dụng nhất.
Thêm vào thanh menu, Photoshop thường có những dòng chữ chạy theo con trỏ trên những công cụ thông dụng nhất mỗi khi bạn đưa con trỏ trượt qua nó. Điều này để làm cho bạn rõ ràng hơn khi lựa chọn công cụ làm việc.


Một trong những menu ngữ cảnh tiện dụng nhất mà có thể truy cập bằng cách nháy chuột phải/ Ctrl + click vào thành tiêu đề của một tài liệu để có đường tắt đến lệnh nhân đôi (duplicate), hình ảnh, hộp thoại kích cỡ canvas, thông tin về tệp tin và định dạng trang. Nếu bạn đã biết cách mở một file ảnh, thì cứ tự nhiên thử đi. Nếu không thì chúng ta tiếp tục bài học sau
user posted image


2. Thanh Trạng Thái


user posted image
Bây giờ bạn hãy nhìn vào thanh trạng thái ở tận cùng của màn hình hiển thị. Thanh trạng thái ít khi được ngừơi dùng lưu tâm tới, nhưng nó có thể là một công cụ quý giá. Bạn phải mở một tài liệu trước khi thanh trạng thái thể hiện thông tin, vậy mở đi thôi! Lệnh tắt để mở là Ctrl+o
user posted imageở bên tận cùng trái của thanh trạng thái bạn sẽ thấy độ phóng đại của tại liệu hiện hành. Bạn có thể click chuột vào đó và đánh vào đó một số bất kỳ để thay đổi độ phóng đại của tài liệu.
user posted imageĐể trả lại tại liệu về 100% độ phóng đại, nháy kép vào công cụ Zoom Tool trong hộp công cụ (Tool Box). Lệnh tắt của công cụ này là Ctrl+Alt+0
user posted image

Ở bên phải của ô độ phóng đại, bạn sẽ thấy một ô thể hiện kích cỡ của tại liệu. Số bên trái thể hiện độ lớn khi chưa nén của file ảnh nếu tất cả các layer bị flatten. Số bên phải thể hiện độ lớn chưa nén của tại liệu bao gồm tất cả các layers và channels. Bạn nên lưu tâm rằng cả hai chỉ số này thường thì lớn hơn độ lớn thực sự của tài liệu khi được save lại.

user posted imageKế bên độ lớn của tại liệu có một mũi tên nhỏ dẫn tới một menu. Khi làm việc với Photoshop bạn sẽ luôn thấy một mũi tên tương tự như thế này, và nhớ rằng đằng sau nó có dấu một menu phụ. Trong trường hợp này menu phu cho phép bạn thay đổi những gì thể hiện ở thanh trạng thái. Thêm vào độ lớn của tại liệu, bạn có thể lựa chọn Scratch Sizes, Efficiency, Timing, hoặc Current Tool

Bên cạnh thanh trạng thái, bạn cũng có thể thấy những thông tin quan trọng về công cụ bạn đang dùng. Nếu bạn vẫn đang lựa chon Zoom Tool, thì thanh trạng thái của bạn sẽ hiện thị "Zoom in". Nếu bạn ở ngoài vùng soạn thảo của tại liệu hãy chuyển con trỏ vào vùng soạn thảo và bạn sẽ thấy thanh trạng thái hiện ra hướng dẫn cách sử dụng công cụ đó. Bây giờ hãy nhấn phím Alt xuống và trên thanh trạng thái sẽ hiện ra "Zoom Out" và con trỏ sẽ biến thành dấu trừ. Hãy thử với lệnh Ctrl cùng với Zoom Tool và quan sát câu hướng dẫn trên thanh công cụ. Hãy thử phối hợp những lệnh như là Ctrl - Shift, hoặc Ctrl-Alt và quan sát hướng dẫn trên thanh trạng thái.

Dưới đây là một số câu lệnh tắt của Zoom Tool

Ctrl-Alt-0/ = phóng to 100%
Alt/ = Click để thu nhỏ
Ctrl/ = Tạm thời chuyển sang Move Tool
Nháy kép Hand Tool = Phóng to cho vừa với màn hình
Ctrl-0/ = Phóng to để vừa với màn hình
Ctrl-+/ = Zoom in
Ctrl--/ = zoom out


phamvulam- 07-17-2006
3. Tool Box - Hộp công cụ

Khi bạn nhìn vào hộp công cụ, bạn sẽ thấy một vài nút có những mũi tên nhỏ ở bên góc phải. Nó có nghĩa rằng còn có những công cụ khác được dấu bên trong. Để lấy công cụ này click chuột giữ và kéo một menu sẽ hiện ra.
user posted image
Khi bạn rê chuột qua những nút khác bạn sẽ thấy một dòng chữ hiện lên chỉ ra tên của công cụ đó và lệnh gõ tắt của nó. Tất cả những Marquee Tool có lệnh gõ tắt là M. Một cách đơn giản để hoán đổi những công cụ là dùng lệnh tắt cùng với phím Shift. Với công cụ Marquee, lệnh Shift-M sẽ hoán đổi từ Rectangular thành Elliptical Marquee Tool. Single marquee row marquee tool rất ít khi được dùng cho nên phải chọn bằng hộp thoại tool box. Một câu lệnh tắt khác để hoán đổi những công cụ ẩn là Alt/ Click vào nút trong Tool Box

Ở dưới hộp Tool Box là hộp Swap Color. Đây là hộp mà nền trước và nền sau được thể hiên. Cái mũi tên nhỏ ở bên góc phải cho phép bạn hoán đổi từ nền trước thành nền sau và ngược lại. Biểu tượng nhỏ màu trắng và đen ở bên trái của Swap Color cho phép bạn quay lại chế độ mạc định ban đầu của Photoshop là đen là nền trước và trằng là nền sau. Để thay đổi màu nền, đơn giản chỉ cần click vào một trong hai nền trước và nền sau và lựa chọn một màu mới trong menu chọn màu. Hãy thử chọn màu mới và quay lại mạc định ban đầu của Photoshop.

user posted image Biểu tượng này cho phép bạn thay đổi 2 lệnh Quick Mask và Selection Mode

user posted image Biểu tượng này cho phép bạn thay đổi giao diện của môi trường làm việc. Hãy thử click chuột vào từng biểu tượng để biết tính năng của nó là gì. Lệnh tắt cho biểu tượng này là F. Bằng cách lập lại nhấn phím F sẽ thay đổi sang 3 trạng thái
user posted image
Sau đây là một số lệnh tắt để thay đổi giao diện của môi trường làm việc. Hãy thử thực hành luôn khi bạn đọc tới nó. Shift-F thay đổi sang Full Screen modes, dấu hoặc hiện thị Toolbox, thanh trạng thái và các Palettes bằng phím Tab. Chỉ dấu mỗi Palettes và để hiện thị Toolbox sử dụng tổ hợp phím Shift-Tab

Phần cuối cùng của Toolbox là di chuyển tài liệu sang ImageReady. Chúng ta không đề cập đến ImageReady trong phần Photoshop này, bạn có thể tìm thêm tài liệu ở ngoài.

Trước khi chuyển sang Palettes, tôi tóm tắt lại những lệnh tắt chúng ta đã học ở trên.

D = Định dạng lại nền trước thành đen và nền sau thành trắng.

X = Hoán đổi vị trí giữa nền trước và nền sau

F = Hoán đổi Screen Modes

Shift-F = Bật và tắt Menu bar trong Full Screen Mode

Tab = Bật và tắt toolbox, status bar, và palettes

Shift-Tab = Bật và tắt chỉ duy nhất Palettes.


4. Palette

Để hiểu tốt hơn phần này bạn nên mởi một file ảnh bất kỳ cho tiện theo dõi

user posted image

Navigation Palette trong version 6.0 bao gồm Navigator, info và Option. Trong Version 7.0 chỉ có Navigator và Info.
khi bạn khởi động Photoshop, tất cả các Palette được hiện ra dọc theo bên phải của màn hình trong nhóm Palettes. Nhóm thứ nhất bao gồm Navigator, info và option. Tiếp theo nó là Color Swatches, Brush Palettes. Ở dưới nữa là History và Action Palettes. Cuối cùng, là Layers, Channels và Paths Palettes.

Palettes có thể di chuyển được trong môi trường làm việc bằng cách nháy vào thanh tiêu đề (màu xanh) và kéo nó. Mỗi một nhóm Palette đều có một chức năng thu nhỏ và đóng lại ở trong thanh tiêu đề. Bạn hãy thử thu nhỏ các Palettes lại đi! nếu bạn nháy vào Palettes lần nữa sẽ lại mở nó ra. Riêng Color Palette thì không thể thu nhỏ hoàn toàn, bạn thử đi!
user posted imageuser posted image

Đối với những Palette chỉ đóng được một phần, bạn có thể đóng nó hoàn toàn bằng cách giữ phím Alt và nhấn vào nút thu nhỏ. Bạn cũng có thể thu nhỏ cả nhóm bằng cách nháy kép vào bất kỳ một Palettes nào. Để hiển thị lại Palette đơn giản là click một lần vào thanh Palette nếu nó ở đằng sau của nhóm hoặc nháy đúp vào nếu nó ở đằng trước của nhóm. Palette cũng có thể thay đổi kích thước bằng cách rê con trỏ ở cạnh của nó khi con trỏ biến thành mũi tên hai đầu và kéo, hoặc bằng cách kéo ở góc của nó. Chỉ có Color, Options và Info là không thể thay đổi kích thước.

Khi bạn nháy vào nút đóng ở một nhóm Palette nó sẽ đóng tất cả những Palette trong nhóm đó. Để hiện thị lại Palette bị ẩn, bạn có thể chọn hoặc trong Window Menu hoặc hiện thị nó bằng lệnh tắt. Lệnh tắt như sau

F5 = Ẩn/ hiện Brushes Palette

F6 = Ẩn/ hiện Color Palette

F7 = Ẩn/ hiện Layers Palette

F8 = Ẩn/ hiện Info Palette

F9 = Ẩn/ hiện Actions Palette

Tab = Ẩn/ hiện Toolbar và tất cả Palettes

Shift-Tab = Ẩn/ hiện tất cả Palettes

phamvulam- 07-17-2006
Chương III: Làm việc với tài liệu


1. Navigator Palette và Hand Tool
Mở một file ảnh bất kỳ.
user posted image


Ở chính giưa Navigator Palette bạn thấy một hình nhỏ thể hiện file ảnh của bạn vừa mở ra. Nếu cả tấm hình của bạn nằm trong phần nhìn thấy được thì nó sẽ có một viên bao quanh như hình. Bạn có thể thay đổi màu viền bằng cách chọn Pallete option

user posted image Bên dưới tấm hình đó, bạn có thêm một công cụ nữa để Zoom in và out. Ô text cho phép bạn gõ vào bất cứ gái trị phóng to hoặc thu nhỏ nào, và thanh trượt cho phép bạn điều chỉnh độ phóng đại bằng cách kéo nó sang trái hoặc phải và hai cái nút nhỏ ở cả hai đầu của thay trượt cho phép bạn zoom in và out bằng cách tăng độ lớn hoặc thu nhỏ với mặc định sẵn có.

Một lưu ý nhỏ cho bạn là với tiện ích của navigator palette khi bạn phóng to một bức ảnh đến cực đại là 1600%, bạn sẽ thấy viền bao quanh nó sẽ di chuyển vào trong. Bằng cách click vào bất cứ chỗ nào trên Navigator đó đều đưa bạn đến điểm bạn click chuột.

user posted image Một cách nữa để di chuyển tài liệu là dùng công cụ Hand Tool. Khi công cụ Hand Tool được chọn bạn chỉ việc click và kéo tài liệu đó tới chỗ cần thao tác. Phím tắt cho Hand Tool là Spacebar (phím cách). Một lưu ý nữa khi dùng Hand Tool là khi bạn muốn di chuyển tài liệu trong chế độ phóng lớn. Bất kể bạn đang dùng công cụ gì, nhưng khi bạn giữ phím Spacebar xuống nó sẽ tự động chuyển sang Hand Tool và cho phép bạn kéo thoải mái.

Khi bạn muốn có độ chính xác cao với file ảnh bạn đang xử lý, bạn nên đặt chế độ phóng đại là 100%. Tại những độ lơn khác kết quả có thể không chính xác như mong đợi. Nhớ rằng mức độ phóng đại hiện thời luôn được hiển thị trong thanh trạng thái, Navigation Palette hoặc thanh tiêu đề của tài liệu.

2. New view và lệnh nhân đôi (duplicate)

Chọn View > New View (window > Documents > New window Photoshop 7.0) và một cửa sổ khác chứa cùng một văn bản sẽ xuất hiện. Đây không phải là một bản copy (chú ý tên của file xuất hiện trong thanh tiêu đề hiện ra chính xác với văn bản hiện thời). Nó chỉ đơn thuần là một góc nhìn thứ 2 của cùng một tấm hình. Bất cứ những thay đổi nào bạn thao tác ở cửa sổ này sẽ có kết quả tương tự như ở cửa sổ kia. Điều này cho phép bạn thiết lập 2 độ phóng đại khác nhau ở cùng một tấm hình. Điều này hết sức cần thiết khi bạn muốn zoom in một phần của tấm hình để xử lý từng chi tiết và cùng một lúc thấy kết quả của việc bạn đang xử lý ở kích thước thực tế.

Lệnh nhân đôi được đặt ở Image menu (Image > duplicate). Nhưng tôi thấy thuận tiện nhất là nháy chuột phải vào thanh tiêu đề. Chọn câu lệnh Duplicate và nó sẽ hiện ra một cửa sổ để bạn đặt tên cho file mới.

user posted image

Lệnh nhân đôi rất thuận tiên khi bạn muốn giữ phiên bản gốc, hoặc bạn muốn tiếp tục xử lý, nhưng bạn nghĩ mình phải quay lại một trạng thái cụ thể sau này. Nhân đôi, tiếp tục xử lý, và nếu có gì sai sót thì chỉ việc xoá file nhân đôi đi và quay lại với file gốc. Thực ra phần History Palette là công cụ tốt nhất để thao tác khi mình muốn undo, nhưng chúng ta bàn đến nó sau.

Cũng bằng cách nháy chuột phải vào thanh tiêu đề bạn có thể thay đổi kích thước của ảnh (hoặc vào Image > Image Size). Lệnh này cho phép bạn thây đổi kích thước của file ảnh hoặc độ phân giải của nó.

3 Kích thước ảnh và độ phân giải

Mục này chỉ đề cập đến mối tương quan giữa kích thước của tấm hình và độ phân giải của nó. Theo tôi thì cứ kích thước càng lớn, có độ phân giải càng cào và file càng nặng để tải. Cho nên cứ giữ nó ở mức bình thường là tốt nhất

4 Hộp thoại kích thước ảnh
Hình dưới đây cho bạn thấy kích thước của ảnh thể hiện dưới đơn vị Pixel. Mũi tên nhỏ cho phép bạn thay đổi từ Pixel thành phần trăm.



Phần hai là kích thước khi in ra của bức ảnh. Chế độ mặc định ở đây là inches, nhưng bạn cũng có thể đổi thành Cm, points, picas hoặc phần trăm.
user posted image
Chú ý với Photo 6.0 trở lên

Version 6.0+ phần này được gọi là "Document Size" thay vì "Print Size".

Bây giờ bạn hãy chú ý đến cái biểu tượng link ở bên phải cả hai chiều rộng và cao của bức ảnh. Điều này có nghĩa rằng chiều cao và chiều rộng được liên kết với nhau, cho nên khi bạn thay đổi giá trị ở một ô, ô kia sẽ thay đổi theo. Để gỡ sự liên kết giữa hai giá trị, bạn chỉ cần bỏ dấu kiểm ở ô "Constrain Proportion" nhưng bạn sẽ ít khi phải làm vậy vì nó sẽ làm bức ảnh của bạn không cân đối.

Bạn chỉ nên thay đổi giá trị ở hộp kiểm Resample Image nếu bạn là một tay cự phách trong photoshop. Còn tôi thì rất ít khi dùng đến nó, cứ để theo mặc định là okie rồi!

P/s : vì lí do bài viết quá dài...nên mình phải ngắt quãng ra thành nhiều phần....Và cũng ko thể post liền 1 lúc được....Mong mọi người thông cảm cho

5.Canvas Size - Kích thước Canvas

Một lệnh kế tiếp khi nháy chuột phải vào thanh tiêu đề là Canvas Size. Lệnh này cũng được tìm thấy ở Image > Canvas Size

Kích thước Canvas cho phép bạn thay đổi toàn thể kích thước của tài liệu canvas mà không cần lựa chọn nội dung của tài liệu. Khi bạn tăng kích thước của tài liệu, vùng canvas sẽ được cộng thêm vào màu nền hiện tại hoặc nó sẽ là trong suốt nếu bạn không để chế độ nền. Thường thì bạn chỉ dùng Canvas Size để tăng kích thước của canvas, nhưng nó có thể được dùng để giảm hoạc cắt Canvas.

Mở một file ảnh bất kỳ và chọn lệnh Canvas Size bạn sẽ thấy một hộp thoại như thế này

user posted image

Như bạn thấy trong hình kích thước hiện tại của tấm hình được thể hiện trên cùng. Những ô giá tri cho phép bạn thiết lập giá trị mới theo chiều rộng và cao tương úng với các đơn vị phần trăm, pixel, inche, cm, points hoặc picas. Những mũi tên nhỏ cho phép bạn xác định Canvas sẽ được định dạng như thế nào. Theo mặc định của Photoshop, ô vuông ở giữa được chọn nó gia tăng một giá trị số lượng Canvas băng nhau cho tất cả các cạnh của tấm hình (giả sử rằng bạn muốn tăng canvas tấm hình của bạn). Khi bạn lựa chọn một trong bất cú những ô vuông khác canvas sẽ được thay đổi ở hướng đối diện. Ví dụ, bạn chọn ô vuông dưới cùng ở giữa, nó sẽ gia tăng kích thước ở trên đỉnh Canvas của bạn.

Bạn hãy thực hành bằng cách điền những giá trị mới vào ô chiều rộng và cao để tăng kích thước Canvas, để theo mặc định là ô vuông ở giữa được chọn. Giả sử rằng màu nền của bạn là màu trắng, bạn sẽ có một khoảng trắng thêm vào tất cả các cạnh của Canvas. Chọn Edit > Undo (hoặc Ctrl-Z) để Undo thay đổi và thay đổi với màu nền mới. Thử lại với lệnh Canvas nhưng lần này thay đổi sự lửa chọn ở các ô vuông theo ý bạn và quan sát nó tác động đến tài liệu như thế nào.

Chú ý: Nếu bạn điền một giá trị bất kỳ vào hộp thoài kích thước, và bạn muốn thay đổi ý định để giữ lại giá trị bạn đầu, hãy giữ phím Alt và nút Cancel sẽ được đổi thành nút Reset. Bằng cách nhấn Reset sẽ quay lại giá bạn đầu của nó. Cách này có thể áp dụng ở tất cả các hộp thoại của PTS (Photoshop), và bạn sẽ thấy nó rất tiện dụng, và bạn nên nhớ nó như là một lệnh tắt.

Lệnh kích thước Canvas hữu dụng khi bạn muốn thêm một khoảng bằng nhau vào Canvas của bạn, hoặc khi bạn biết chính xác bạn kích thước bạn muốn điều chỉnh, nhưng có nhiều cách làm trực giác và linh hoạt hơn để tăng hoặc giảm kích thước canvas bằng cách sử dụng Crop Tool

6 Crop Tool - Công cụ cắt

Lệnh tắt cho Crop Tool là C. Công cụ Crop Tool trong PTS có nhiều tác dụng hơn chỉ là cắt ảnh. Như đã nói ở phần trên, Crop Tool có thể được dùng để tăng kích thước Canvas. Trong PTS 6 nó có thể được dùng để nhanh chóng thay đổi chiều hướng của ảnh.

Hãy thực tập với công cụ Crop Tool. Bạn hãy mở một file ảnh bất kỳ và chọn một vùng trên tấm hình để cắt. Chỉ cần giữ chuột và kéo nó, khi ban buông chuột ra sẽ có một vùng lựa chọn thể hiện dưới dạng các chấm. Bạn không cần phải tạo ra một sự lựa chọn hoàn hảo với lần cắt đầu tiên, vì bạn luôn luôn có thể chỉnh sửa lại vùng lựa chọn trước khi quyết định cắt. Tất nhiên nếu bạn làm chính xác lần đầu tiên thì bạn sẽ tiết kiệm được thời gian, tuy nhiên hình ảnh mặc định của công cụ Crop làm cho nó có vẻ khó xác định chính xác đâu là phần bắt đầu và kết thúc của vùng lựa chọn

user posted image Vùng lựa chọn thực chất bắt đầu từ trung tâm của Crop Tool, bên hình bên bạn sẽ thấy có một điểm màu đỏ, đó chính là điểm bắt đầu. Tuy nhiên nếu bạn muốn biết chính xác hơn, bạn nên đổi qua Crosshair Cursor. Tại bất cứ thời điểm nào, bạn có thể đổi từ tiêu chuẩn thành con trỏ bằng cách nhần phím Caps Lock. Lệnh tắt này có thể áp dụng được với công cụ Painting Tool. Bạn thử thực hành xem, và có thể bạn sẽ thấy rằng con trỏ rất khó nhìn thấy trong một số nền, nhưng dù sao thì nó cũng là điều tốt khi bạn có một sự lựa chọn khi cần đến.

Bây giờ bạn hãy chọn bất cự loại con trỏ nào mà bạn muốn và kéo một vùng lựa chọn trên file ảnh của bạn. Bạn có để ý thấy những ô vuông nhỏ ở các góc và viền của vùng lựa chọn không? Tác dụng của nó là để kéo và chỉnh sửa vùng lựa chọn bằng tay. Một điều nên chú ý là khi bạn kéo ở góc của vùng lựa chọn, nó sẽ gia tăng kích thước ở cả chiều rộng và cao của tấm hình. Nếu bạn giữ phím Shift thì bạn luôn có một đường thẳng. Phím Shift là một phím rất quan trọng khi bạn muốn vẽ một đường thẳng,bạn sẽ dùng đến nó rất nhiều khi dùng các công cụ như line tool, gradient ...

Khi bạn thực hành và kéo vùng lựa chọn có thể bạn sẽ thấy một khó khắn như sau. Khi bạn muốn mở rộng vùng lựa chọn ra gần với biên của cửa sổ, nhưng nó cứ "vèo" ra đến tận biên, mà mình thì muốn nó phải cách biên một chút. Hãy nhần phím Ctrl xuống và bạn sẽ thao tác rất dễ dàng.

Chú ý với Version 6.0+

Trong Photoshop 6+, vùng lựa chọn được thể hiện bởi một màu xám. Điều này làm cho nó dễ dàng hơn khi quan sát vùng lựa chọn tác động đến tài liệu như thế nào. Bạn có thể thay đổi vùng này bằng cách thay đổi độ nét từ thanh lựa chọn (option bar) sau khi bạn đã chọn lựa vùng để cắt. Bạn cũng có thể ẩn bóng đi bằng cách bỏ dấu kiểm khỏi ô "Shield Cropped area"

user posted image
Khi bạn rê con trỏ vào trong vùng lựa chọn, nó sẽ đổi thành mũi tên màu đen. Điều này có nghĩa rằng bạn có thể di chuyển vùng lựa chọn. Giư phím Shift để di chuyển chính xác hơn.

Khi bạn rê con trỏ đến góc của vùng lựa chọn, bạn sẽ thấy nó biến thành một mũi tên cong. Khi đó bạn có thể xoay vùng lựa chọn để duỗi thẳng một tấm hình cong. Điểm ở giữa của vùng lựa chọn cho phep bạn xác định điểm trung tâm mà ở đó vùng lựa chọn được xoay vòng. Bạn có thể di chuyển điểm trung tâm này bằng cách giữ và kéo nó.

Khi bạn muốn huỷ bỏ vùng lựa chọn ấn phím Esc. Hoặc khi bạn muốn thiết lập vùng lựa chọn nhấn phím Enter hoặc đơn giản là nháy đúp vào vùng lựa chọn

Chú ý Version 6.0+

dấu tích là thiệt lập vụng lựa chọn còn dấu "X" là huỷ bỏ.

Bạn có thể quay lại với trạng thái ban đầu của bức ảnh bằng cách vào File > Revert.

Với tuỳ biến của công cụ Crop Tool, có một hộp kiểm để thiết lập định dạng Fixed Target size.Khi hộp kiểm này được chọn, bạn có thể lựa chọn độ phân giải của file ảnh. Với version 6+ bạn sẽ không thấy hộp kiểm nhưng bạn có thể gõ giá trị vào ô Width, Height và Resolution để thay đổi độ phân giải của tấm ảnh thay vì cắt.

phamvulam- 07-17-2006
7 thực hành với Crop Tool

Bây giờ thực hành một chút với công cụ Crop Tool. Bạn hãy lưu hai bức ảnh này lại. Nháy chuột phải và chọn "Save target as". Bài thực hành này áp dụng cho cả hai phiên bản 5 và 6+

Pic 1
Pic 2
Pic 3


Bài thực hành 1
Thay đổi hình dạng, tăng kích thước Canvas và thêm vào đường viền

Trước khi cắt http://www.bantayden.com/PTS/psc5-009.jpg Sau khi cắt http://www.bantayden.com/PTS/psc5-011.jpg

Cắt file ảnh để có được kết quả như trên. Hình ở dưới hiển thị vùng lựa chọn mà bạn sẽ thiết lập

user posted image

user posted image

Tiếp đến dùng công cụ Crop Tool để mở rộng Canvas Size và thêm vào đường viền màu đen cùng một lúc. Đầu tiên hãy chọn nền trước là màu đen (Nhấn phím D) tiếp theo thiết lập vùng lựa chòn và kéo đường biên ra ngoài file ảnh như hình bên trái. Khi bạn hài lòng vói vùng lựa chọn của bạn, hãy xác nhận vùng lựa chọn (Nháy kép vào vùng lựa chọn kết quả sẽ được như hình bên phảiuser posted image

Bài thực hành 2
Xoay chuyển file ảnh với công cụ Crop Tool


user posted image

Trước khi cắt
user posted imageSau khi cắt

Cắt file ảnh để có được kết quả như trên. Hình ở dưới hiển thị vùng lựa chọn mà bạn sẽ thiết lập

user posted image

Bài thực hành 3
Xoay ảnh và sửa lỗi hình bị lệch

Trướcuser posted image Sauuser posted image

Cắt file ảnh để có được kết quả như trên. Hình ở dưới hiển thị vùng lựa chọn mà bạn sẽ thiết lập.

phamvulam- 07-17-2006
user posted image

Sau khi bạn thiết lập vùng lựa chọn, bạn muốn xoay nó để **** nó ngay ngắn lại, di chuyển góc trên bên phải chạm vào biên của bức ảnh. Chú ý rằng cạnh đáy phải song song với nền nhà, và hai đường biên hai bên phải song song với hai bên nhà. Nhớ rằng bạn có thể dùng phím Shift để tạo vùng lựa chọn thẳng hơn.

Nếu bạn di chuyển tâm điểm của tấm hình hoặc đặt góc của vùng lựa chọn sai vị trí, PTS sẽ hiển thị một thông báo lỗi. Nếu bạn thấy thông báo này, bạn phải định vị lại góc vùng lựa chọn và thử lại lần nữa.

Sau ba bài thực hành ở trên, tôi hy vọng bạn đã quen dần với công cụ cắt Crop Tool. Bây giờ chúng ta chuyển sang mục mới History Palette - Palette sự kiện


user posted image

8. History Palette - Palette sự kiên

Bây giờ bạn đã biết một số lệnh cơ bản để xử lý ảnh, do vậy nó cũng rất cần thiết để biết làm cách gì Undo những thay đổi và sửa lỗi. Bạn có thể dùng Ctrl-Z để Undo, nhưng nó chỉ có tác dụng từng hành động một, hãy thử tượng tượng bạn đã làm đến 17 thao tác và muốn quay lại thao tác thứ 2, 3 thì chẳng lẽ undo đến 15 lần? Đó là lý do tại sao có thêm History Palette
user posted image
Nhìn vào hình bên cạnh là History Palette. Trên cùng của Palette này là một tấm hình nhỏ và tên của file đó
Bất cứ khi nào bạn mởi một file ảnh, PTS sẽ tạo ra một tấm ảnh nhỏ và đặt nó ở vị trí này. Cách nhanh nhất để Undo toàn bộ thao tác là nháy kép vào bức ảnh, bạn cũng có thể tạo ra thêm một bức ảnh nữa bằng cách chọn biệu tượng new snapshot từ Menu của History Palette hoặc nhấn vào nút new Snapshotuser posted image

Thực hành với History Palette bằng cách tạo ra một số thay đổi như là thay đổi kích thước, cắt ảnh. Tiếp đến bạn hãy tạo ra một Snapshot. Bây giờ nhấn vào snapshot đầu tiên trong danh sách. Bức ảnh sẽ trở lại trạng thái ban đầu. Nhấn vào Snapshot thứ hai bạn sẽ quay lại với phiên bản đang xử lý. Kết hợp với History Brush, Snapshot có thể là một công cụ rất đắc lực.

Dưới Snapshot bạn sẽ thấy có những đường kẻ phân biệt, và một danh sách của những thay đổi gần nhất mà bạn tao ra cho bức ảnh. Bạn có thể Undo bất cứ thao tác nào chỉ bằng cách chọn sự thay đổi cuối cùng bạn muốn trở lại, hoặc kéo biểu tượng mũi tên nhỏ xuất hiện bên cạnh mỗi thao tác. Thanh trượt này hữu dụng là vì có khi bạn không chắc bạn phải quay lại bao nhiêu bước bời vì nó cho phép bạn xem trước những thay đổi khi bạn di chuyển nó lên hoặc xuống.

Với chế độ mặc định PTS chỉ cho phép 20 thao tác bạn tạo ra cho bức ảnh, còn những thao tác trước đó sẽ bị xoá khỏi list để dành bộ nhớ cho PTS. Nếu máy tính của bạn có dung lượng bộ nhớ cao thì bạn có thể tăng con số này lên qua History Option trong History Palette. Nếu bạn muốn giữ bộ nhớ cho PTS thì bạn nên tạo ra những snapshot tại những điểm quan trọng trong suốt quá trình xử lý, do đó bạn có thể quay lại với trạng thái trước đó

user posted imageDưới cuối cùng của History Palette có 3 nút. Nút thứ nhất để tạo ra một văn bản mới và có tác dụng giống như lệnh Duplicate khi bạn nhân đôi file ảnh, tất cả những sự kiện trước đó sẽ bị xoá với bản nhân đôi. Nút thứ 2 tạo ra một snapshot mới. Bằng cách này thì thao tác nhanh hơn là phải vào menu nhưng nó không cho phép bạn thay đổi tên của snapshot. Snapshot mới sẽ được đặt tên tự động theo dạng số. Nút cuối cùng là xoá đi trạng thái hiện tại hoặc snapshot phụ thuộc vào cái gì được chọn trên palette

Trước khi kết thúc phần History Palette tôi muốn chỉ ra một vài đỉêm quan trọng mà bạn nên biết về History Palette.

History và Snapshot không lưu lại với file ảnh. Đóng hoặc mở một file ảnh sẽ xoa hết những thao tác cũ và snapshot

Quay lại với thao tác trước và tiến hành thao tác mới sẽ xoa hết những sự kiện theo sau nó.

Xoá một thao tác sẽ xoá hết những sự kiện theo sau nó, trừ phi non-linear option được chọn

Ctrl-Alt-Z = di chuyển lên trong History Palette

Ctrl-Shift-Z = Di chuyển xuống trong History Palette


9. Lưu lại file ảnh

Chắc tôi không phải đề cập nhiều về mục này, vì ai cũng biết cách Save một file như thế nào rồi phải không? chỉ có phần Save for web thì tôi sẽ đề cập kỹ hơn ở một bài viết khác.

THũ tHUậT ChO pHoToShOp : tẠP CãnH Ánh Mặt tRờI PhãN ChIẾu
Với bộ lọc Lens Flare có sẵn trong Photoshop, bạn sẽ nhanh chóng thêm vào tấm ảnh của mình ánh nắng chói chang của mặt trời mà không cần phải biết sử dụng nhiều về Photoshop.
Ngoài ra, với bộ lọc này cùng những thông số khác nhau, bạn cũng có thể tạo ra những đốm sáng góp phần làm cho tấm ảnh của mình sinh động thêm
user posted image
Bước 1: Bạn vào menu File/Open và mở tấm ảnh cần tạo hiệu ứng, kế đó bạn vào menu Layer, chọn Duplicate Layer rồi nhấn OK
user posted image
Bước 2: Bạn vào menu Filter/Render/Lens Flare. Tại hộp thoại này bạn có một số lựa chọn sau: Chọn lại độ sáng ở mục Brightness (ở hình minh họa này tôi chọn độ sáng là 160%).

- Chọn vị trí đặt mặt trời ở khung Flare Center bằng cách bấm vào dấu cộng (+) và kéo đến vị trí mong muốn.

- Chọn độ chói ở khung Lens type tùy vào mục đích sử dụng. Ở đây vì muốn tạo mặt trời nên tôi chọn là 50 - 300 mm Zoom rồi nhấn OK.

Sau đó nếu thấy chưa vừa ý thì bạn nhấn Ctrl + Z để quay về hình gốc và làm lại với các thông số khác. Khi đã vừa ý rồi thì bạn vào Layer chọn Flatten Image để trộn hai lớp lại với nhau rồi vào File/Save As để lưu lại thành file ảnh mới.

phamvulam- 07-17-2006
Độ xE vỚI PhotOsHOp
-Ảnh gốc nè...:


user posted image
Tớ thay đổi màu sắc của toàn bộ ảnh (vừa zhanh vừa ...zễ ), rồi sau đó chỉ tập trung "độ" cái xe...
+Dán decan cho xe bằng thập cẩm các loại Brush
+Chế cho xe mấy các rims khác to hơn, khủng hơn (Ghép hình ấy mà)... rồi chỉnh màu cho hợp gu
+...
Cuối cùng, đây là thành quả, trông cũng tàm+tạm, mọi người góp ý thêm nha...:

user posted image

user posted image
GrAfFiTi In PhOtOsHoP !!!
Brush này sẽ giúp bạn tạo được những hình nền rất phong cách


user posted image
user posted image
user posted image



Ngoài ra còn rất nhiều bộ lọc khác cực đẹp
http://designfruit.com/jasongaylor/blog/?p=43

Tớ thử làm nè...

user posted image

GIaI TRi' VoI' PhOtOshOp ( TaY~ mUn. , tAn` NhAnG , CaY^' rAu^ , NHaN vAt. TuOnG~ TuoNg. )
Không cần thiết phải đi vào thẩm mỹ viện để sửa sắc đẹp, phương pháp đó theo tớ nghĩ vừa không kinh tế, vừa đau đớn lại không yên tâm. Lý do rất đơn giản là chúng ta phải lệ thuộc hoàn toàn vào tay nghề của bác sĩ thẩm mỹ. Dân máy tính như tớ sẽ tự mình làm phẫu thuật thẩm mỹ cho chính bản thân! Bạn không tin ư? Xin mời tham gia cùng tớ, nhưng phải chờ tớ bật máy lên và khởi động trình Photoshop đã.

Tẩy mụn, tàn nhang trong 5 phút

Mặt tớ đầy mụn, xấu quá! Đừng sử dụng Oxy5, tốn kém về kinh tế lẫn thời gian, hãy dùng scanner quét tấm hình đầy mụn của bạn vào máy tính với độ phân giải khoảng 200 dpi. Sau khi "xử lý", bạn sẽ cảm nhận được hạnh phúc "hết mụn" tức thì.

Cách làm rất đơn giản, chỉ sử dụng dụng cụ Rubber Stamp trên hộp công cụ. Trước khi thao tác bạn hãy chọn nét bút có độ lớn phù hợp với chu vi khuôn mặt. Sau đó đưa con trỏ vào ảnh, đặt dấu ấn vào những phần "thịt" trên má mà mụn chưa tấn công hay không dám tấn công và nhấn phím Alt để xác định phần "thịt còn tốt" này sẽ thay thế những nơi bị mụn, tàn nhang. Tiếp theo, bạn hãy khéo *** rê chuột trên vùng má có mụn và sẽ nhận thấy rằng khi con trỏ đi đến đâu mụn trên mặt lặn theo đến đó. Thật là tuyệt! Bạn sẽ tự hỏi: có phải là tớ đó không?


Cấy râu?

Bạn cứ tưởng tượng xem muốn để một hàm râu cho ra hồn ít nhất cũng phải mất hai hay ba tháng, nhưng chưa chắc là sau thời gian dưỡng ấy bạn đã cảm thấy vừa lòng. Thế tại sao bạn không thử cấy râu lên khuôn mặt mình? Chắc là trông ngộ nghĩnh lắm? Bạn sẽ có một trận cười vỡ bụng. Để làm việc đó, hãy tạo một Layer mới bằng cách mở cửa sổ cuộn Layer, nhấn vào mũi tên phía bên phải màn hình để xuất hiện menu lệnh, rồi nhấn vào New Layer và đặt tên mới (ví dụ: Layer 1). Điều này nghĩa là khi thay đổi, bổ sung các chi tiết vào hình, chúng sẽ nằm trên một lớp mới và bạn sẽ dễ dàng thao tác mà không sợ ảnh hưởng đến hình gốc. Tiếp theo, dùng công cụ Pen vẽ phác thảo bé râu. Cách vÏ hoàn toàn như CorelDraw. Sau khi các nét đã trơn tru và thùc sù võa ý, bạn hãy më cưa sỉ Path và nhÊn vào mũi tên bên phải màn hình rồi chọn chức năng Make Selection (tạo thành vùng chọn từ đường Path), hoặc nhấn vào biểu tượng Load path as a selectionádưới đáy cửa sổ Path cũng được kết quả như trên.Khi đã có vùng chọn, bạn sẽ thực hiện tô màu cho bộ râu (chẳng hạn màu đen) bằng cách chọn Edit\Fill. Nếu màu đen nằm trên Foreground thì bạn phải Foreground ở Use, và độ đen của mảng màu sẽ tùy thuộc vào thông số bạn xác định trong Opacity. Tương tự cách làm này bạn có thể vẽ ra bất cứ kiểu râu nào mình thích.


Nhân vật tưởng tượng

Nhiều khi , có những nhân vật nào đó trong phim, trong truyện hay trong các trò chơi điện tử làm bạn mê mẩn, tạo cho bạn tham vọng hơi quá đáng là có thể trở thành như nhân vật thần tượng của mình, mặc dù bạn biết rằng điều đó không thể xảy ra. Nhưng đối với những người làm máy tính thì không có một sự **** rồ nào mà không thể thực hiện được! Tớ hoàn toàn không nói khoác. Chỉ cần có được ảnh của nhân vật bạn thích và ảnh của chính bạn là mọi chuyện kể như đã được giải quyết.

Bạn chọn lấy phần khuôn mặt của mình sau đó rê nó qua ảnh của nhân vật để tạo thành một lớp mới (nếu bạn không quen với cách này, có thể dùng chức năng cắt vào Clipboard rồi lại dán đối tượng vào hình cũng được). Sau đó tiến hành gọt giũa bằng công cụ Lasso hay vẽ Path rồi chuyển thành Selection, bỏ đi phần thừa trên khuôn mặt của bạn. Thực hiện co dãn, xoay hình để sao cho khuôn mặt của bạn chồng khít trên khuôn mặt nhân vật là được. Khi hoàn tất hãy kết hợp hai lớp thành một để có hình ảnh như ý muốn (dùng lệnh Flatten Image trong Layer). Việc khó khăn nhất khi thực hiện các thao tác này là bạn phải chụp hình của mình có tư thế giống như nhân vật cần ghép.

Hy vọng ít phút "giải lao" với Photoshop sẽ giúp bạn thư giãn, vui vẻ hơn sau những giờ làm việc căng thẳng và mệt mỏi trên máy tính.
CaC' nGUyEn TaC' sU~ dUNg Bo^. lOc. pHoToShOP
Phiên bản Photoshop mi5s đang dùng tại nhà là PS 7.0 ... với PS 7.0 thì có tất cả là 97 bộ lọc...Bộ lọc là công cụ đa năng và đầy quyền lực,bộ lọc cho phép người dùng chỉnh sửa hình ảnh với đủ các loại hiệu ứng : quẹt nhè - làm sắc nét,chạm nổi - khắc chìm,thêm nhiễu - khử vết,tạo quầng sáng - bóng đổ ...Với 97 bộ lọc này bạn có thể làm được đủ phép biến hóa .... từ việc tạo dựng các font chữ đẹp tới việc tô vẽ thêm cho bức tranh của mình (vốn dĩ khi scan đã bị làm hỏng chất lượng ).. tuy nhiên hãy nhớ là nếu nhà bạn ko có PS thì nên out lun khỏi topic đừng đọc làm gì vì có đọc cũng không hiểu đâu .

Những gì trình bày dưới đây cũng chỉ là sưu tầm trên net ... không có đủ thời gian để ngồi type như vậy nhưng cũng mong chút đóng góp của mình sẽ giúp mọi người hiểu hơn về PS và sức mạnh kì diệu của nó . Đó là 1 bộ môn (có thể gọi như thế ) mà mi5s rất thích học . chỉ tiếc là không có thời gian ,thường chỉ là ngồi nhà và tự mày mò lấy. Tới 1 người dạy bảo cũng không. Khi nào có thời gian sẽ ngồi làm thêm hình minh họa ... nói trước cũng chỉ là minh họa cho các bạn thấy được hiệu ứng của các bộ lọc chứ đẹp thì không dám hứa chắc ... có khi còn mong mọi người đừng tưởng ma mà chê

Số bộ lọc riêng của Adobe Photoshop được xếp vào 13 hạng mục liệt kê trên menu Filter ... Sau đây là từng hạng mục :

-- Nhóm bộ lọc Artistic --


Colored Pencil
Cutout
Dry Brush
Film Grain
Fresco
Neon Glow
Paint Daubs
Palette Knife
Plastic Wrap
Poster Edges
Rough Pastels
Smudge Stick
Sponge
Underpainting
Watercolor



-- Nhóm bộ lọc Blur --


Blur
Blur More
Gaussion Blur
Motion Blur
Radial Blur
Smart Blur




-- Nhóm bộ lọc Brush Strokes --


Accented Edges
Angled Strokes
Crosshatch
Dark Strokes
Ink Outline
Spatter
Sprayed Strokes
Sumi-e






-- Nhóm bộ lọc Distort --
Diffuse Glow
Displace
Glass
Ocean Ripple
Pinch
Polar Coordinates
Ripple
Shear
Spherize
Twirl
Wave
ZigZag

-- Nhóm bộ lọc Noise --
Add Noise
Despeckle
Dust & Scratches
Median




-- Nhóm bộ lịc Render --
Clouds
Diffference Clouds
Lens Flare
Lighting Effects
Texture Fill

-- Nhóm bộ lọc Pixelate
Color Halftone
Crystallize
Facet
Fragment
Mezzotint
Mosaic
Pointillize


-- Nhóm bộ lọc Sharpen --
Sharpen
Sharpen More
Sharpen Edges
Unsharp Mask

-- Nhóm bộ lọc Stetch --
Bas Relief
Charcoal
Chalk & Charcoal
Chrome
Conté Crayon
Graphic Pen
Halftone Pattern
Note Paper
Photocopy
Plaster
Reticulation
Stamp
Torn Edges
Water-Paper


-- Nhóm bộ lọc Stylize --
Diffuse
Emboss
Extrude
Find Edges
Glowing Edges
Solarize
Tiles
Trace Contour
Wind

-- Nhóm bộ lọc Texture --
Craquelure
Grain
Mosaic Tiles
Patchwork
Stained Glass
Texture


-- Nhóm bộ lọc Video --
De-interlace
NTSC Color
-- Nhóm bộ lọc còn lại ( Other )
Custom
High Pass
Minimum
Maximum
Offset

Sử dụng bộ lọc Photoshop

Như đã nói,không tính đến những bộ lọc "bên thứ ba" bản thân photoshop có đến 98 bộ lọc riêng,xếp thành 13 hạng mục : Artistic,Blur,Brush Strokes,Distort,Noise,Pixelate,Render,Sharpen,Sket ch,Stylize,Texture,Video và Other gồm những bộ lọc không có cùng đặc điểm. - truy cập từ menu Filter.Phần này sẽ lần lượt giới thiệu từng bộ lọc theo từng nhóm,có kèm theo thông tin hướng dẫn sử dụng.

Kiểu bộ lọc :
Có ba kiểu bộ lọc chính
-- Bộ lọc một bước ( One Step Filter ) --
Áp dụng bộ lọc không có sự điều khiển của người dùng.Ví dụ bộ lọc Blur,làm nhoè các điểm ảnh trong hình ảnh để màu trong mỗi điểm ảnh trở nên hơi gần hơn với màu của các điểm ảnh gần nó nhất.Bạn không thể định rõ mức độ nhoè bạn muốn có cho điểm ảnh đó.Bạn chọn tên bộ lọc từ menu,bộ lọc thực hiện công việc của nó,và thế là xong.Bạn có thể áp dụng bộ lọc đó nhiều lần nhưng kết quả lọc lần đầu so với lần sau đều như nhau và bạn không thể thay đổi.Có thể tìm thấy bộ lọc loại này trong menu Filter do chúng không có các dấu ( ... ) theo sau tên
-- Bộ lọc tham số ( Parameter Filter ) --
Cho bạn các lựa chọn.Bạn cần cài đặt các con trượt hoặc công cụ điều khiển để định rõ công việc mà bộ lọc sẽ thực hiện.Hầu hết bộ lọc cài sẵn trong photoshop là thuộc kiểu này.
-- Bộ lọc ứng dụng mini ( Mini-application Filter ) --
Là bộ lọc cho phép người sử dụng lưu và gọi lại các xác lập,tạo ra môi trường riêng bên trong photoshop.Nhiều bộ lọc của bên thứ ba ( tức bộ lọc không do Adobe chế tạo mà phải đặt mua riêng ) là bộ lọc ứng dụng mini,còn bộ lọc gốc photoshop thì không thuộc loại này.

Loại bộ lọc :
Các bộ lọc có thể được phân chia thành nhiều loại chung.Hai loại cơ bản nhất là Production và Special Effects.Bộ lọc hướng dẫn sản xuất dùng để chỉnh màu hoặc hiệu chỉnh tiêu điểm giúp chuẩn bị hình ảnh để in.Bộ lọc hiệu ứng đặc biệt thay đổi hình ảnh theo cách thức không hiện thực.Loại này còn được chia nhỏ thành những loại sau :
-- Pre-Press -- Bộ lọc giúp chuẩn bị hình ảnh để in ra
-- Special Effects -- Mục đích là thay đổi hình ảnh theo chiều hướng nghệ thuật hơn là hiện thực
-- Color Change -- Bộ lọc thay đổi các giá trị màu trong hình ảnh
-- Deformation -- Bộ lọc thay đổi hình học của các hình ảnh bằng cách uốn,vặn,thu nhỏ ...
-- Displacement -- Sử dụng hình ảnh khác hoặc một thuật toán cài sẵn làm ánh xạ để điều khiển sự biến dạng của ảnh gốc.Làm cho hình ảnh đó có dáng vẻ tựa như được chiếu qua kiểu bề mặt khác.chẳng hạn nước hoặc thuỷ tinh.
-- Destructive -- Bộ lọc thay thế hình ảnh với hiệu ứng riêng : hình ảnh gốc không tác động đến kết quả lọc
-- Distressed -- Hình ảnh gốc thay dổi hiệu ứng bộ lọ,nhưng hình ảnh được lọc không dễ nhận biết được
-- Focus -- Bộ lọc thay đổi tiêu điểm của hình ảnh,làm cho ảnh sắc nét hoặc nhoè hơn.
-- Stylizing -- Bộ lọc tạo hiệu ứng hơi trừu tượng và tạo phiên bản cách điệu hoá của ảnh gốc.
-- Texture -- Bộ lọc tạo hoa văn bề mặt ( gọi là mẫu kết cấu )
-- 3D -- Bộ lọc tạo chiều thứ ba trong hình ảnh
Một số bọ lọc có thể thuộc nhiều loại."Special Effects" và Pre-Press là chủ đích hơn là kết quả.Chúng được dùng kết hợp với các loại khác trên biểu đồ.

Chế độ màu được chấp nhận :
Bộ lọc có thể làm việc trên chế độ RGB,Grayscale,CMYK,hoặc chế độ màu Lab - hoặc chỉ trên một vài chế độ trong số đó.Vị trí này trên biểu đồ cho bạn biết bộ lọc đang bàn có thể hoạt động trên chế độ màu nào.Hình ảnh trong chế độ Bitmap hoặc Indexed Color không thể lọc được

Kiểu xem trước :
Sẽ luôn luôn hữu ích khi có khả năng xem xét hiệu ứng lọc trước khi quyết định áp dụng bộ lọc đó vào hình ảnh.Điều này đặc biệt quan trọng khi bạn dùng bộ lọc tham số,bởi lẽ nó giúp bạn lựa chọn các xác lập thích hợp và rút ngắn thời gian thi hành.Nhiều bộ lọc của Photoshop có khung xem trước - tức vùng trong hộp thoại của bộ lọc đang sử dụng cho phép bạn xem những gì xảy ra khi áp dụng bộ lọc đó.Các bộ lọc One-Step không có khung xem trước.Dưới đây là một số kiểu xem trước của bộ lọc :
-- Không có ( none ) -- Bộ lọc không có khung xem trước
-- Một phần ( Small Filter Preview ) -- Có một vùng nhỏ trong hộp thoại hiển thị một phần nhỏ của hình ảnh khi được áp dụng bộ lọc.
-- Toàn phần ( Full Filter Preview ) -- Ngoài khung xem trước nhỏ,bạn có thể xem các kết quả ảnh trên ảnh gốc.Cả khung xem trước nhỏ và ảnh gốc đều được cập nhật khi bạn thay đổi các xác lập tham số.
-- Khung dây ( Wireframe Preview ) -- Sơ đồ biểu thị đường dẫn biến dạng sẽ được dùng để lọc hình ảnh.bạn không xem được màu hoặc dữ liệu hình ảnh.

Phụ thuộc dữ liệu :
Trên biễu đồ cột này có dạng "Có/không".Có nếu bộ lọc đó thuộc loại phụ thuộc dữ liệu và chỉ có thể hoạt động trong một hình ảnh khác với hình ảnh trang ( Blank Image ).Việc lọc một hình ảnh trống ( có màu thuần ) với bộ lọc phụ thuộc dữ liệu sẽ không gây thay đổi trên hình ảnh đó.Một bộ lọc độc lập với dữ liệu ("không") sẽ tạo ra một kết quả ngay cả nếu hình ảnh hoàn toàn trắng.Một số bộ lọc độc lập với dữ liệu chỉ làm việc nếu hình ảnh không phải màu trắng : bộ lọc Clouds là mộ lọc duy nhất tạo kết quả trên lớp hoàn toàn trong suốt.Những bộ lọc khác ít nhất phải có các điểm ảnh để làm việc trên đó ( và bạn sẽ phạm lỗi nếu cố tình áp dụng loại bộ lọc này trên lớp trong suốt )

Phụ thuộc màu
Đây cũng là cột có dạng "Có/không" khác."không" có nghĩa là màu Blackground và màu Foreground đã chọn từ ToolBox là màu nào cũng được,không thành vấn đề."Có" có nghĩa là bộ lọc sử dụng hoặc màu Foreground hoặc Background hoặc cả hai như một phần của hiệu.

Nhóm bộ lọc ARTISTIC
Mười lăm bộ lọc thuộc nhóm Artistic được dùng để áp dụng một "Phong cách nghệ thuật" cụ thể cho hình ảnh.Tuy có thể được dùng kết hợp với các bộ lọc khác hoặc trên một vùng chọn,nhưng bản thân chúng đã là những lệnh mạnh đến mức khó có thể kết hợp được.Sử dụng các bộ lọc này trên toàn hình ảnh để đạt được kết quả "có chủ ý " tốt nhất.
Các bộ lọc Artistic chỉ có thể lọc ảnh RGB hoặc Grayscale.Chúng không làm việc được với ảnh CMYK hoặc ảnh Lab.Ngoài ra chúng không hoạt động trên một lớp trắng.Tất cả đều là bộ lọc tham số - tức là chúng có các tham số (điều khiển) cụ thể mà bạn có thể quy định để hình thành những kết quả khác nhau.Mọi bộ lọc thuộc loại này đều có ảnh xem trước dạng một phần ( Small Filter Preview ) trong hộp thoại bộ lọc,chứ không có khung xem trước hình ảnh toàn phần ( Full Image Preview )

-- Colored Pencil --
Bộ lọc Colored Pencil lấy một hình ảnh hoặc một vùng chọn và cách điệu hoá vùng đó theo các nét chì màu được cho là giống nhau trên giấy trung hoà ( đen đến trắng ).Thực tế bộ lọc này dùng các màu trội trong hình ảnh và loại bỏ những vùng nó sẽ biến đổi thành " màu giấy " tuỳ thuộc vào cách xác lập tham số.Bộ lọc để lại một kiểu vẽ gạch chéo khá hấp dẫn nhưng không giống nét bút chì cho lắm.Nếu có chăng nữa thì nó hầu như tương tự tranh sơn dầu đuợc dát bằng dao trộn sơn dầu và đường viền mờ.Bạn hãy thử xem.

-- Cutout --
Bộ lọc Cutout,được cải tiến từ lệnh Posterize,đon giản hoá các màu trong hình ảnh thành một số cấp độ theo yêu cầu.Nhưng Cutout sử dụng màu từ ảnh gốc - thay vì các không gian màu " nguyên thuỷ " ( RGB hoặc CMYK ) như ở lệnh Posterize.Đó là bộ lọc "thông minh" theo ý nghia nó tìm kiếm các hình danhjg để đơn giản hoá,và khử răng cưa ranh giới nơi các màu gặp nhau,bộ lọc Cutout thiên về tính toán nên ảnh xem trước hiển thị rất chậm.Bộ lọc này,tuy nhiên,tạo một vẻ bề ngoài thay đổi từ "trừu tượng đến mức bạn không thể hình dung đó là cái gì " (với các xác lập levels là 2,Edges Simplicity là 0,Edges Fidelity là 1 ) cho đến vẻ bề ngoài " được vẽ bằng số " ( ở levels 8,Edge Simplicity là 0,Edges Fidelity là 3 ) .Bạn nhận được kết quả chi tiết nhất bộ lọc này bằng cách dùng ảnh gốc có độ tương phản cao.Trong một số trường hợp hạn chế,bộ lọc Cutout có thể rất hữu dụng để làm một mặt nạ.

-- Dry Brush --
Đây là một trong số các bộ lọc hiếm hoi dường như cho kết quả tốt ở mọi xác lập - mặc dầu hiệu ứng bạn nhận được thay đổi trong phạm vi khá rộng.Nó mô phỏng kỹ thuật cọ vẽ khô truyền thống - rê một cọ vẽ ( Paintbrush ) cho đến khi hết sạch sơn dầu.Đường viền lúc dó sẽ bị đứt đoạn lem nhem từ đầu này đến đầu kia tấm vải vẽ ( canvas ).Đối với hình ảnh trong máy tính hiệu ứng này làm cho đường viền bị răng cưa và sắc nét,mặc dù việc che bóng bên trong vẫn duy trì các biến thể và bóng nhoè
Không có các xác lập nào trong bộ lọc này có thể tạo ra hình ảnh trắng.Với xác lập Brush Size bằng 0,Image Detail bằng 0 và Texture bằng 1 bạn nhận được một hiệu ứng tựa như viền ren các mép trong hình ảnh.Định Image Detail là 10 bạn sẽ có một bức tranh sơn dầu trừu tượng nhoè nhoẹt có chi tiết rất gần với ảnh gốc nhưng khác về " cảm giác " vì nó không còn là ảnh chụp nữa.Nếu xác lập Brush Size bằng 0,Image Detail bằng 10 và Texture bằng 3,bạn nhận được bức tranh sơn dầu rất kì là,tựa như bị quệt bằng nhiều vệt màu khác nhau.

-- Film Grain --
Bộ lọc Film Grain là bộ lọc Noise kết hợp với logic để làm ánh sáng và tăng cường các phần của hình ảnh.Bộ lọc Add Noise có thể làm biến dạng hình ảnh với nhiễu,trái lại Film Grain,ngay cả ở xác lập cao nhất cung không gây ra tai họa này.Hơn nữa bộ lọc Film Grain còn cho phép bạn định rõ một vùng sáng và cường độ có thể thêm nhiễu cho vùng tối của hình ảnh nhiều hơn vùng sáng.Bộ lọc này cho hiệu ứng khá đẹp khi dược dùng cho các ký tự ( trên hình ảnh ) nhưng chúng ta không coi đây là bộ lọc tạo hiệu ứng đặc biệt hấp dẫn.
Ở các xác lập thấp nhất,bộ lọc Film Grain không tạo bất cứ hiệu ứng gì.Bộ lọc dường như làm phẳng màu trong hình ảnh - Xác lập Grain càng cao,màu càng phẳng.Bạn thử dùng bộ lọc này xem.

-- Fresco --
Bộ lọc này rất giống bộ lọc Dry Brush,nhưng có tác dụng tăng cường độ tương phản và làm cho các vùng tối trở nên đậm hơn.Bộ lọc Fresco có cùng các điều khiển như bộ lọc Dry Brush.Mọi xác lập trong bộ lọc này đều tạo ra hình ảnh hữu dụng
Bộ lọc Fresco rất tốt để trừu tượng hoá một hình ảnh và làm sâu sắc thêm độ tương phản.Các màu trở nên rất chói

-- Neon Glow --
Neon Glow là bộ lọc rất kì quặc.Nó tạo nên màu nhị tông ( duotone ) hoặc tam tông ( tritone ) lạ lùng từ hình ảnh,tuỳ thuộc vào các lựa chọn màu của bạn
Trừ phi bạn muốn một hình ảnh âm bản lạ hoặc ảnh có màu kì dị,còn chúng tôi không dám chắc bộ lọc này có công dụng đáng kể nào.Nếu chọn đúng màu,nó có thể cho bạn cảm giác về một thé giới khác trên hình ảnh,và cung có thể có hiệu quả khi được dùng trên một vùng cọnh hoặc trên kí tự.Nếu có trắng lần lượt là màu Foreground đen và màu Background trắng,bạn sẽ nhận được hình ảnh ở thang độ xám,với màu đã chọn ở xác lập "Color" là phần loé sáng.Tuy nhiên cung phải để kiểm tra vùng chọn có một số giá trị rất chói trong đó,nếu bạn dùng giá đị dương cho Size.Bộ lọc này hoàn toàn phụ thuộc vào màu.Nó phản ứng lại các xác lập màu Foreground,màu Background và màu thứ ba được chọn trong chính bộ lọc đó.Chọn các màu tương phản để cho kết quả rõ rệt

-- Paint Daubs --
Nghe tên gọi,hẳn bạn sẽ nghi rằng bộ lọc này tạo hiệu ứng nom như các vệt màu vẽ.Nhưng thật ra không phải vậy.Tuy nhiên,có nhiều xác lập đưa đến kết quả thú vị - mặc dù chúng không phù hợp với cái tên Paint Daubs ( các vệt màu vẽ được quệt cẩu thả ).Logic của bộ lọc này dường như là sự giao thoa giữa bộ lọc Dust & Scratches với Radius là 16 và Threshold là 0 ( tức là các vùng nhoè màu ) và bộ lọc Unsharp Mask.Tựa như bạn có thể chọn một mức độ làm sắc nét tuỳ ý một sau khi hình ảnh đã được chia thành các vùng màu.Sẽ rất tuyệt nếu áp dụng bộ lọc cho toàn hình ảnh để cách điệu hoá và trừu tượng hoá hình ảnh đó
Khi Brush Size và Sharpness có giá trị ở khoảng giữa,cọ vẽ Sparkle dường như cho hiệu ứng tựa như bạn đã dùng bộ lọc Gaussson Blur và bộ lọc Find Edges và sau đó làm sắc nét các đường viền mép.Đó là một vẻ ngoài thú vị
Các giá trị khoãng giữa của Brush Size và Sharpness dường như hữu dụng nhất.Nếu bạn định cả Brush Size lẫn Sharpness quá thấp,bạn sẽ thấy không có thay đổi gì trong hình ảnh.

-- Palette Knife --
Bộ lọc Palette Knife tạo hiệu ứng như bạn đã vẽ hình ảnh bằng dao trộn màu - nếu bạn chọn đúng xác lập và muốn sử dụng dao trộn màu để lại màu vẽ hoàn toàn phẳng trên vãi vẻ.Độ phẳng là điều duy nhất không hay lắm về bộ lọc này.Đó là điều không tự nhiên cho tên của bộ lọc.
Bộ lọc cho hiệu ứng tựa như bạn đã quệt các vệt màu lên vãi vẻ đã được lót bằng màu đen.Vùng tối nhất trở nên đen tuyền và hình ảnh tựa như tăng thêm độ bão hoà.Bộ lọc có thể giúp cải thiện một ảnh nét trắng đen đon giản.Bộ lọc khá tốt cho toàn bộ hình ảnh hoặc bất kì nơi nào bạn muốn dùng bộ lọc Crystallize.Đây còn là bộ lọc lý tưởng cho việc tạo hoạ tiết với cọ vẽ lớn.Nó cung kết hợp tốt với bộ lọc Emboss.

-- Plastic Wrap --
Bà Maxime Masterfield,trong cuốn Painting the Spirit Of Nature ( nhà xuất bản Watson Guptill ,1984 ) đã mô tả cách sử dụng chất dẻo để tạo hoa văn và độ bóng trong các hình ảnh trừu tượng của mình.Bà thường nghiền bột chất dẻo thành sơn ướt và quệt sơn theo các đường nét mà bà muốn.
Thật không may,bạn không thể làm thế trên phiên bản điện tử.Nó đi theo các đường viền trong hình ảnh hơn là ngược lại.Tuy nhiên,bó vẫn có thể dùng để tạo độ bóng cho một phần hình ảnh hoặc làm cho toàn hình ảnh có vẻ ngoài có chiều rõ rệt.Bộ lọc Plastic Wrap còn giúp tăng cường hiệu ứng nghệ thuật ở đường nét đơn giản.Bộ lọc này cho hiệu ứng rất tuyệt khi áp dụng cho các chữ
Nếu bạn lọc một hình ảnh màu đậm theo các xác lập cao nhất,bạn nhận được dạng ngôi sao.Lọc lại lần nữa tạo một đốm chất dẻo rất thú vị.Nếu lấy một phần của đốm này và tạo mẫu hoa văn không có đường nối,bạn có thể được một bản đồ mấp mô hoặc bản đồ chuyển vị.

-- Poster Edges --
Bộ lọc Poster Edges phân tích hình ảnh theo các màu riêng và bổ sung chi tiết đen xung quanh các mép.Mọi xác lập đều tạo thay đổi khả kiến trong hình ảnh.Bộ lọc này rất có ích khi bạn muốn có một hiệu ứng tranh khắc gỗ.bạn có thể nhận được kết quả tương tự bằng cách dùng bộ lọc HighPass ở xác lập 1.6 cùng với lệnh Thereshold và đặt hình ảnh chồng lên bản gốc trong chế độ Multiply.

-- Rough Pastels --
Bộ lọc Rough Pastels,phản ứng với các kết cấu ( Texture ) cài sẵn bên trong bộ lọc,hoặc có thể dùng bộ lọc khác làm bộ lọc kết cấu.Muốn tạo hiệu ứng mới lạ,bạn có thể áp dụng một bộ lọc bất kỳ cho bản sao hình ảnh.Sử dụng bản sao bộ lọc này đã làm kết cấu khi bạn được hỏi muốn chọn kết cấu nào cho bộ lọc Rough Partels .Bộ lọc Rough Partels có thể giúp cải thiện một ảnh nét trắng đen đon giản và tạo hiệu ứng đẹp mắt với chữ.Ngoài ra,nó rất hiệu quả khi cần tạo các kết cấu hoa văn trên một hình ảnh trắng được điền đầy với nhiễu từ nhẹ đến vừa.
Đây là bộ lọc rất phức tạp với nhiều tham số bạn có thể thay đổi.Tham số quan trọng nhất là Texture,có thể tạo một khác biệt lớn cho kết quả cuối cùng.Bộ lọc Rough Pastels cho hiệu ứng với kết cấu gạch ( Brick ) rất khác so với kết cấu hiệu ứng với kết cấu vải thô ( Burlap ).Bạn có thể thay đổi kết cấu này bằng cách thay đổi các tham số Scaling,Amount Of Relief,Ligjjht Direction.

-- Smudge Stick --
Bộ lọc Smudge Stick tạo hiệu ứng trông tựa như bạn cầm miếng giẻ và bôi bẩn lên bản vẽ phấn màu.Với mọi xác lập ở các giá trị tối thiểu,hình ảnh chỉ hơi có vẻ bị nhoè và vấy bẩn.Các màu bị giảm và bị chà lẫn vào nhau.Bộ lọc Smudge Stick là loại bộ lọc tạo kết cấu rất tốt khi được dùng trên hình ảnh trắng đã có gan nhiễu.

-- Sponge --
Bộ lọc Sponge tạo hiệu ứng trông tựa như ai đó chấm nhẹ sơn lên hình ảnh.Lượng sơn và kích cỡ miếng bọt xốp ( sponge ) có thể điều khiển được.Đây là một trong những bộ lọc cách điệu hoá thành công hơn cả.
Chọn cọ vẽ cỡ nhỏ và một giá trị Smoothness thấp tạo hiệu ứng rất hấp dẫn - cả hai có hoặc không có giá trị xác lập Definition cao.Cỡ cọ vẽ lớn với giá trị Smoothness cao tạo hiệu ứng trông tựa như hiệu ứng lọc Median
Điều đó tạo nên hiệu ứng giấy nổi hạt tuyệt diệu khi được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần cho ảnh màu thuần nhất,hãy dùng bộ lọc Sponge theo cách thông thường hoặc sử dụng kết cấu trùng lặp hoặc kết cấu trong kênh làm "giấy ",y như kiểu bạn vẫn làm trong Painter

-- Underpainting --
Khó có thể nói hết về công dụng của bộ lọc Underpainting.Sử dụng kết cấu Canvas và cọ vẽ cỡ nhỏ với xác lập Texture Coverage cao nhất,bạn nhận một ảnh thực đến mức bạn nghi rằng sơn vẫn còn ướt.Hình ảnh hoàn toàn nom như thể bạn đã phát thảo các chi tiết với lớp sơn mỏng trên vãi vẽ.Nó còn giúp cải tiến một ảnh nét trắng đen đơn giản
Bạn có thể dùng bộ lọc này một cách chính xác như khi bạn sơn lót theo kiểu truyền thống và thêm vào chi tiết lấy từ ảnh gốc

-- Watercolor --
Nếu căn cứ vào tên,bạn có thể nghi rằng bộ lọc Watercolor làm cho hình ảnh trông tựa như được vẽ bằng màu nước,nhưng thật ra không phải như vậy.Các kết quả của bộ lọc Watercolor rất giống với kết quả của bộ lọc Fresco,nhưng bộ lọc Fresco thêm nhiều biên dạng xung quanh dường viền của hình dạng nào nó nhận diện được.Bộ lọc Watercolor tìm kiếm các hình dạng và đơn giản hoá màu sắc.Nó tạo một khoảng biến thiên giá trị và hình dạng rất lý tưởng trong tiến trình đơn giản hoá màu từ " nhiếp ảnh " sang " hội hoạ ".Tuy nhiên,dấu hiệu của màu nước thường là cảm giác nhẹ nhõm,thanh thoát,trong khi hiệu ứng tạo thành từ bộ lọc Watercolor lại có màu quá mạnh.Bộ lọc Watercolor tăng cường độ vùng tối trong hình ảnh quá mức,và màu ở hiệu ứng cuối cùng cực kỳ mạnh và chói.Tuy vậy,bộ lọc này khá thông dụng,bởi lẽ nó giúp bạn tạo một kiểu trông tựa như màu nước trong Photoshop theo cách dễ dàng nhất - nhưng nếu tô vẽ với tuỳ chọn Wet Edges trong Palette Brush,bạn cung sẽ nhận được một hình ảnh rất gần với ảnh vẽ bằng màu nước.
Một biến thể thú vị trên bộ lọc Watercolor là lọc hình ảnh với giá trị Texture bằng 1 và sau đó bản sao khác của ảnh gốc với Texture bằng 3 ( và nhớ chọn chế độ Blending là Difference )


Góc photoshop gaixinh8x.good.to

Forumer™ is Voted #1 Free Forum Hosting provider
Build your own community today with the largest message board hosting company.